Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2009
Kỹ thuật trồng nấm kim châm
Kỹ thuật trồng nấm kim châm
Chuẩn bị túi màng mỏng
Chọn túi PE hay PP có kích thước 38-40x17-20cm, dày 0,05-0.06mm. Cũng có thể dùng chai thủy tinh miệng rộng để nuôi trồng nấm kim châm. Khi dùng chai thủy tinh miệng rộng cần phải chuẩn bị thêm các miếng màng mỏng, giây báo hay vải phin để phủ miệng bình trước khi khử trùng (diệt khuẩn).
Phối trộn nguyên liệu:
Nguyên liệu trồng nấm kim châm tương đối đa dạng có thể là: Thân lá đậu đõ, vỏ lạc, mùn cưa cao su, mùn cưa tạp, mùn cưa bồ để, rơm ra, lõi ngô, bã mía , vỏ chuối....
Một số công thức trộn nguyên liệu:
Công thức 1: Mùn cưa 77%, Cám gạo 20%, Bột thạch cao 1%, Đường 1%, supe lân 1% bổ sung nước đạt độ ẩm 60-70%, pH 6,5.
Công thức 2: Rơm rạ cắt nhỏ 72%, cám gạo 20%, bột ngô 5%, Đường 1%, super lân 1%, bột thạch cao 1%. Bổ sung nước đạt độ ẩm 60-70%, pH 6,5.
Cần lưu ý riêng với mùn cưa phải phải ủ đống sau 3-6 tháng mới nên sử dụng để trồng nấm kim châm. Nếu vội thì phải vừa phơi nắng vừa nhào trộn với nước, sau vài ngày.
Lèn nguyên liệu vào túi nilon màng mỏng tương tự như khi làm bịch nuôi trồng nấm sò, mộc nhĩ... có thể dùng tay hoặc dùng máy đùn. Mỗi túi nên chứa khoảng 0,4-0,5kg nguyên liệu. Chừa ra khoảng 20cm chiều cao ở phía trên để sau này cho cuống nấm kim châm có chỗ mọc. Làm phẳng bề mặt môi trường để tạo ra một lỗ giếng, sau này dùng để cấy giống. Làm cục bông tròn ruồi cuộn màng mỏng phía trên lại quanh nút bông, phủ một miếng giếay bóa lên trên rồi buộc lại bằng dây nilon. Hấp khử trùng gián đoạn như đối với các nấm khác. Đợi nguội đến 250C đưa vào buồng cấy giống. Thường một chai giống có thể dùng để cấy cho khoảng 30-40 túi. Cần dùng các chai hay bịch giống đã có sợi nấm mọc trắng đến đáy nhưng không nên dùng các loại để lâu tới quá 2 tháng.
Sau khi cây giống vào túi đựng môi trường sản xuất ta đặt các bịch này vòa các giá gỗ hoặc trê nứa có chiều rộng 1m, chiều dài tùy diện tích của phòng, các tầng cách nhau 50-60cm. Duy trì nhiệt độ 20-230C, sau 20-30 ngày sợi nấm sẽ mọc đầy túi. Độ ẩm tương đối không khí trong phòng nuôi nấm dùy trì khoảng 80-90%.
Khi nấm hình thành quả thể thì nhiệt độ thích hợp nhất là 130C, không nên nuôi trồng nấm kim châm ở nhiệt độ quả 160C.
Khi quả thể mọc ra cần mở hết miệng túi, giữ độ ẩm, giữ độ ẩm tương đối của không khí khoảng 80-85%, duy trì ánh sáng khuyếch tán. Việc nới dần chiều dài phía trên của túi nên theo nguyên tắc khi nào túi cũng cao hơn quả thể 5cm. Nếu không làm như vậy quả thể sẽ bị nở sớm, cuống nấm ngắn. Lúc cuống nấm kim châm cao dần thì nên hạ độ ẩm tương đối của không khí xuống còn 75-80%, giữ phòng tối nuôi trồng nấm từ khi xuất hiện xuất hiện quả thể đến lúc thu hoạch.
Thu hoạch:
Sau khi cuống nấm dài đến 15cm thì có thể thu hoạch đợt đầu. Sau khi thu hái nấm, kéo túi nấm lên cao hơn bề mặt môi trường khoảng 2cm, duy trì nhiệt độ khoảng 130C, chỉ sau khoảng 3-4 ngày đã xuất hiện quả thể nấm đợt 2.Toàn bộ thời gian nuôi trồng kéo dài trong khoảng 75-90 ngày.
Ngoài phương pháp cho nấm mọc ra từ một đầu bịch còn có phương pháp làm cho nấm kim châm mọc ra từ hai đầu bịch. Khi đó phải cho nguyên liệu vào ống dài, làm nút bông ở cả hai đầu và đặt ngang bịch nấm trên giá thể.
Ngoài phương pháp trồng nấm kim châm trong túi màng mỏng còn có thể nuôi trồng trong các chai thủy tính. Khi bắt đầu chuẩn bị quả thể cần bỏ nút ra và gài miệng túi những tấm giấy sáp hình dẻ quạt cao 15cm, đường chu vi trên là 34cm, đường chu vi dưới là 20cm.
Địa chỉ liên hệ mua giống nấm kim châm:
Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật Quốc gia- 334 đường Nguyễn Trãi – Hà Nội
Điện Thoại 04-8584457.
Theo hoinongdan.org.vn Đọc thêm!
Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009
Bón phân theo tỷ lệ 16 : 16 : 8
+ Phân urea: 35 kg (trong 100kg Urea có 46kg N; muốn có 16 kg N thì: 16 x100/46=35 )
+ Phân Super lân: 100kg (tính tương tự: (16 x100)/16=100)
+ Phân Kali sunfat: 16kg (tính: (8x100)/ 50=16).
Tổng khối lượng phân bón cần bón là : 35 + 100 +16 =151 kg .
Tổng khối lượng phân NPK cần bón cho 1000 m¬2 là 100 kg phân NPK 16 : 16 : 8 . Vậy tổng khối lượng phân NPK cần bón cho 300 m2 là 30 kg . Vậy lượng phân cần bón cho 300 m 2 là :
Phân urea : 3,5*2 = 7 kg .
Phân super lân : 10*2 = 20 kg
Phân Kali sunfat : 1,6*2 = 3,2 kg làm tròn 3kg .
Vậy bón phân cho cây dưa hấu theo các công thức sau :
Phân urea Phân Super lân Phân Kali sunfat
7 kg 20 kg 3 kg
8 kg 20 kg 3 kg
9 kg 20 kg 3 kg
10 kg 20 kg 3 kg Đọc thêm!
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009
Phương pháp phối trộn phân bón
Ngoài dạng phân đơn, có 3 dạng phân bón vô cơ đa dinh dưỡng như sau:
- Phân bón phức hợp: Chứa ít nhất 2 trong số các chất dinh dưỡng sơ cấp N,P,K và được sản xuất bằng phản ứng hóa học. Các hạt phân bón loại này có chứa các chất dinh dưỡng với tỷ lệ xác định. Hiện nay, đa số phân bón đa dinh dưỡng loại này thường được sử dụng tại các nước phát triển.
- Phân trộn: Phân bón dạng này được sản xuất bằng cách phối trộn khô một số nguyên liệu, không tiến hành phản ứng hóa học.
- Phân bón hỗn hợp: Để chỉ các loại phân bón chứa ít nhất 2 trong số các chất dinh dưỡng sơ cấp N,P,K và được sản xuất bằng phản ứng hóa học, hoặc phối trộn, hoặc cả hai cách kết hợp. Các hạt phân bón loại này có chứa các chất dinh dưỡng ở những tỷ lệ khác nhau.
Các sản phẩm phân bón hỗn hợp đáp ứng riêng cho từng loại cây trồng đang có xu hướng phát triển. Đây là dạng phân chuyên dùng, chứa các yếu tố đa, trung, vi lượng phù hợp với từng loại cây trồng, từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Ví dụ phân NPK hỗn hợp với tỷ lệ 13-10-21 + 2 MgO, hoặc phân NPK 20-10-10 cho những loại cây trồng có nhu cầu đạm cao.
Trong việc hướng dẫn bón phân cho một loại cây trồng cụ thể trong một giai đoạn người ta cũng khuyến cáo chế độ bón phân theo một công thức nào đó. Ví dụ đối với cây măng cụt: Bón mỗi gốc từ 3-4 kg mỗi lần và bón 3 lần trong năm, như sau:
- Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch xong, tỉa cành tạo tán và bón phân theo công thức: N:P:K (20:20:10), mỗi gốc 3 kg kết hợp với 20-30 kg phân chuồng hoai cho mỗi cây.
- Lần 2: Trước khi ra hoa 30-40 ngày bón phân vô cơ có hàm lượng lân cao theo công thức N:P:K (8:24:24), mỗi gốc 3 kg.
- Lần 3: Bón lúc cây đậu trái xong (đường kính trái 1-2 cm) phân vô cơ theo công thức N:P:K (13:13:21)
Để bón đúng theo khuyến cáo trên, phải biết cách phối trộn các loại phân phổ biến trên thị trường.
Phân đơn là loại phân phổ biến nhất và được đánh giá là có chất lượng ổn định hơn so với phân trộn có mặt trên thị trường. Từ phân đơn có thể phối trộn thành phân đa dinh dưỡng thích hợp.
1. Cách tính thành phần dinh dưỡng trong công thức phân đơn:
- Phân Urea: công thức hóa học NH2CONH2, phân tử lượng 60 (trong đó: N=14; O=16; H=1; C=12). Trong 60 có 28 phần N, do đó hàm lượng N=46%.
- Phân đạm S.A (Sunfat Amonium): công thức hóa học (NH4)2SO4, phân tử lượng 132 (trong đó: N=14; O=16; H=1; S=32). Trong 132 có 28 phần N, do đó hàm lượng N=21% và cũng trong 132 có 32 phần S, do đó S=24%.
- Phân đạm Clorua (Clorua Amôn): công thức hóa học NH4Cl, phân tử lượng 53,5 (trong đó: N=14; Cl=35,5; H=1). Trong 53,5 có 14 phần N, do đó hàm lượng N=26% và cũng trong 53,5 có 35,5 phần Cl, do đó Cl=66% (Cây dừa cần nhiều phân chứa Clo, tuy nhiên đất khô hạn, nhiễm mặn không nên bón phân đạm clorua, dễ làm cho cây bị ngộ độc do dư clo)
- Phân amôn nitrat: công thức hóa học NH4NO3 , phân tử lượng 80, hàm lượng N=35%.
Đối với các loại phân đạm khác, thành phần N% cũng được tính tương tự như trên.
Đối với phân lân thì hàm lượng lân được tính theo %P2O5; Phân Kali thì tính theo %K2O. Tuy nhiên hàm lượng của các chất đạm, lân, kali tính như trên chỉ đúng trong hóa chất tinh khiết còn đối với các loại phân thường thì không được đầy đủ nhất là các loại phân lân.
- Phân lân thiên nhiên: chủ yếu là phosphat calci Ca3(PO4)2 thường lẫn với đất, chất hữu cơ, oxyt sắt,... Phosphat calci rất khó tan trong nước chỉ tan trong các dung dịch chua. Do đó người ta chế biến thành phân super lân bằng phản ứng hóa học giữa phosphat thiên nhiên với axit sunfuric.
- Phân Super lân: Chủ yếu chứa Ca(H2PO4)2 và hàm lượng P2O5 chỉ khoảng 16% do nguyên liệu từ phân lân thiên nhiên có lẫn tạp chất.
- Phân DAP (DiAmoniumPhotphat), công thức (NH4)2HPO4, hàm lượng NPK tưong ứng là 18-46-0.
-Phân KCl: Phân Kali Clorua trông giống như muối ớt do có những mảnh đỏ như ớt lẫn vào do được khai thác từ khoáng mỏ. Hàm lượng sản phẩm đạt khoảng 60% K2O.
- Phân K2SO4: Phân Kali sunfat có màu trắng không chứa Clo, có chứa lưu huỳnh, tỷ lệ K2O khoảng 50%.
2. Cách phối trộn phân đơn thành phân trộn đa dinh dưỡng:
Để bón phân cây măng cụt theo hướng dẫn như trên, cần pha trộn như sau:
- Bón phân theo công thức: N:P:K (20:20:10) cần pha trộn:
+ Phân urea: 43 kg (trong 100kg Urea có 46kg N; muốn có 20kg N thì: 20x100/46=43)
+ Phân Super lân: 125kg (tính tương tự: (20x100)/16=125)
+ Phân Kali sunfat: 20kg (tính: (10x100)/ 50=20).
Tổng khối lượng phân trộn: 188kg, đem bón đều cho mỗi gốc 3 kg theo hướng dẫn. Hoặc trộn theo tỷ lệ: Phân Urea: 4,3kg; Phân super lân: 12,5kg; Phân Kalisunfat: 2kg. Tổng khối lượng phân trộn: 18,8kg (bón được 6 cây)
- Bón phân theo công thức: N:P:K (8:24:24) cần pha trộn như sau:
+ Phân urea 46%N: 17kg.
+ Phân Super lân (16% P2O5): 150kg.
+ Phân Kali Sunfat (50% K2O): 48kg.
- Bón phân theo công thức: N:P:K (13:13:21) cần pha trộn như sau:
+ Phân urea 46%N: 28kg.
+ Phân Super lân (16% P2O5): 81kg.
+ Phân Kali Sunfat (50% K2O): 42kg.
Có thể thay thế phân Urea bằng các loại phân đạm khác như SA... hoặc thay thế Super lân bằng DAP (có cả đạm và lân) hoặc thay thế bằng phân Kali Clorua (60% K2O)...
Phương pháp phối trộn phân bón cho phép chủ động bón phân cân đối theo hướng dẫn của nhà khoa học. Tùy theo mức độ sẵn có của phân bán trên thị trường mà áp dụng phối trộn sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Đọc thêm!
Thứ Hai, 27 tháng 10, 2008
Kỹ thuật nhân giống cà phê
I. Nguồn vật liệu để nhân giống
Cà phê là một cây công nghiệp dài ngày, chu kỳ kinh tế trên 40 năm tuỳ theo từng giống, điều kiện trồng chế độ chăm sóc và mục đích khai thác. Vì vậy để bảo đảm cho việc sản xuất kinh doanh thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao thì việc chọn giống cũng như kỹ thuật nhân giống thích hợp có tính quyết định. Hiện nay có 2 loại cà phê chè và giống cà phê vối. Đây là 2 loài mang những đặc điểm di truyền cũng như yêu cầu sinh lý, sinh thái hoàn toàn khác nhau. Do vậy phương pháp và kỹ thuật nhân giống đối với từng loại vật liệu của 2 loài này có những điểm cơ bản khác nhau
1.1. Vật liệu giống cà phê chè.
Cà phê chè là một cây thụ phấn nên hầu hết các giống cây chè hiện đang được trồng ở trong nước như: Bourbon, Typica, Caturra,Catuai, mundo, Novo, Catimor, TH1,vvv...đều có độ thuần chủng rất cao. Vì vậy, việc nhân các giống này được thực hiện bằng phương pháp hữu tính. Tuy nhiên , để tránh bị lai tạp khi thiết lập các vườn nhân giống nhất thiết mỗi vườn chỉ trồng một loại giống và phải cách ly với các vườn giống khác.
Trong những năm gần đây Viện khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đang phổ biến ra sản xuất giống cà phê chè lai thế hệ F1. Do điều kiện hiện nay chưa thể tổ chức được sản xuất hạt giống lai F1 nên vẫn phải nhân giống bằng phương pháp vô tính.
1.2. Vật liệu cà phê vối
Khác với cà phê chè, cà phê vối là cây thụ phấn chéo bắt buộc do vậy không thể tạo ra được các dòng thuần để lấy hạt làm giống. Hiện nay, việc cung cấp hạt giống cà phê vối cho sản xuất đều là những hạt giống lai 2 hoặc đa dòng. Những vườn trồng bằng những loại hạt giống này không thể dùng để làm vườn để lấy hạt giống. Muốn thiết lập các vườn sản xuất lai 2 hoặc đa dòng người ta phải sử dụng các cây bố, mẹ được nhân bằng phương pháp vô tính và trồng thành hàng xen kẽ nhau để đảm bảo cho sự thụ phấn được tốt nhất và phải có biện pháp cách ly với các vườn cà phê vối khác tránh bị tạp giao. Kích thước hạt cà phê thường được di truyền theo cây mẹ vì vậy nên chọn những dòng vô tính có kích thước hạt lớn làm cây mẹ để sản xuất hạt giống.
Ngoài hạt giống lai, nguồn vật liệu giống cà phê vối thường dùng hiện nay để nhân giống và trồng trong sản xuất là các dòng vô tính. Nhân các dòng này bắt buộc phải dùng phương pháp nhân vô tính.
II. Nhân hữu tính
2.1. Chế biến, bảo quản và vận chuyển hạt giống.
Quả cà phê để chế biến hạt làm giống phải thu hái đúng tầm chín. Không thu hái những quả đã chín nẫu, còn ương, quả khô, quả bị khô hoặc bị dị dạng. Quả cà phê sau khi thu hoạch về phải đem chế biến ngay không để sang ngày hôm sau. Dùng các loại máy xát đĩa, trống hoặc trục côn để tách lớp vỏ quả. Trong điều kiện hộ gia đình, với khối lượng quả ít, không thể dùng chân đạp để tách lớp vỏ quả. Sau khi tách lớp vỏ quả, hạt thu được còn một lớp nhớt bám xung quanh bên ngoài lớp hạt cần phải được làm sạch bằng cách đem ủ khoảng 12-20 giờ tuỳ điều kiện khí hậu của từng vùng để cho lớp nhớt này bị phân huỷ sau đó đem rửa, đãi cho thật sạch. Trong quá trính ủ cần đảo trộn đều 2-3 lần. Cũng có thể làm sạch ngay lớp nhớt này bằng việc dùng dung dịch có chứa một trong những loại hoá chất Na2CO3, NaOH hoặc NH4OH nồng độ khoảng 2-3% để tẩy rửa. Hạt cà phê sau khi được rửa, đãi sạch nhớt được hong ở nơi râm, mát cho ráo nước.
Hạt cà phê không có tính ngủ nghỉ và rất nhanh mất sức nảy mầm vì vậy sau khi chế biến xong nên đem đi gieo, ươm ngay và chỉ cần từ 7-15 ngày là nảy mầm hoàn toàn. Nếu chưa sử dụng ngay thì cần phải bảo quản hạt giống ở những nơi thoáng mát bằng cách rải thành từng lớp dày khoảng 10cm trên nong, nia, liếp đan hoặc trên nền xi măng khô ráo. Trong thời gian bảo quản phải thường xuyên kiểm tra để loại bỏ kịp thời các hạt có lỗ mọt, hạt bong vỏ, hạt đen bị nấm mốc. Hạt giống được bảo quản trong môi trường độ ẩm không khí 85-90%, nhiệt độ 22-25oC và độ ẩm của hạt 20-22% thì sau 2-3 tháng tỷ lệ nảy mầm vẫn có thể đạt trên 80%. Quá thời gian đó thì tỷ lệ nảy mầm sẽ giảm đi một cách rất nhanh chóng. Khi vận chuyển đi xa hạt giống phải đựng trong các bao đay, bao dệt bằng PE với khối lượng không quá 30kg/bao. Phương tiện vận chuyển phải có mui che mưa, nắng, thoáng mát và sạch sẽ. Không để hạt giống bị hấp hơi khi vận chuyển, bảo quản. Thường xuyên kiểm tra khi thấy nhiệt độ trong bao đựng hạt lên đến khoảng 40oC thì phải tạm thời cho hạt ra khỏi bao. Để tránh bị nhiễm bệnh trong quá trình bảo quản, vận chuyển có thể dùng các loại thuốc trừ nấm dạng bột như Benomyl, Captan, Captafol, benlat...trộn đều với hạt giống.
2.2. Xây dựng vườn ươm
Tuỳ theo quy mô, mục đích sử dụng mà xây dựng vườn ươm theo dạng cố định hay tạm thời. Cần chọn những nơi thuận tiện cho việc vận chuyển, đi lại, quản lý, chăm sóc, gần nguồn nước, không bị ngập úng, tương đối lặng gió và không có các chất độc hại cũng như nguồn bệnh gây hại cho cây trồng để xây dựng vườn ươm. Nếu vườn ươm được xây dựng trên nền đất mới có lớp đất mặt thích hợp để làm bầu thì cần dọn sạch cỏ rác, thân, gốc cây ra ngoài. Sau đó dùng bừa đĩa nhẹ hoặc phay làm tơi lớp đất mặt tới độ sâu 10-15cm. Trong quá trình này tiếp tục thu gom các loại rễ cây, đá, gạch còn sót lại... trước khi làm luống, vào bầu đất cần tiến hành dựng giàn che nắng. Giàn nên làm cao khoảng 2m để tiện cho việc đi lại. Có thể dùng cọc gỗ, tre...có đủ độ vững chắc để làm cột, phía trên gác cây để làm giàn. Hàng cột không làm trên lối đi giữa 2 luống. Vật liệu dùng để làm giàn che nắng có thể là tầu dừa, rơm rạ, cỏ tranh, liếp tre, nứa...hoặc lưới ly non sao cho dễ điều chỉnh được lượng chiếu sáng phù hợp với các giai đoạn sinh trưởng của cây. Lúc đầu giàn che chỉ để cho khoảng 20-30% ánh sáng tự nhiên đi qua. Xung quanh vườn cần có liếp che, hoặc trồng các băng cây anh để chắn gió, bên ngoài đào các mương vừa để thoát nước lại vừa để chống cháy. Luống đặt bầu nên làm theo hướng Bắc-Nam có chiều rộng khoảng 1,0-1,2m dài 20-25m, lối đi giữa 2 luống rộng 0,35-0,4m. Đối với những vườn ươm lớn, sử dụng lâu dài nên chọn vị trí thích hợp để xây bể chứa nước có ngâm các loại phân để tưới thúc, đồng thời thiết kế hệ thống dẫn nước hoặc giàn tưới phun mưa.
2.3. Bầu dùng để ươm cây giống
Dùng túi nylon có kích thước rộng từ 15-17cm, dài 23-25cm và đục 8 lỗ đường kính 0,5cm cách đáy bầu khoảng 2-4cm để dễ thoát nước. Đất dùng để vào bầu phải chọn lớp đất mặt từ 0-20cm, tơi xốp và nhiều mùn. Không nên dùng tầng đất quá sâu; đất sét, đất thịt nghèo chất dinh dưỡng, khó thoát nước cây sẽ bị còi cọc không phát triển được. Dùng lớp đất mặt đã được làm tơi xốp trộn lẫn với phân chuồng đã hoại mục và phân lân theo tỷ lệ sau: 0,7-0,8m3 đất mặt+0,3-0,2m3 phân chuồng + 5-6kg phân lân nung chảy sẽ tạp thành 1 m3 hỗn hợp đủ đóng được 800-900 bầu có kích thước như trên. Khi cho đất vào bầu cần phải lèn chặt, bầu cân đối không gấp khúc và cách mép bầu khoảng 1cm.
2.4. Xử lý thúc mầm và cho hạt vào bầu
a. Xử lý thúc mầm với hạt còn nguyên vỏ thóc
Hoà nước vôi theo tỷ lệ 1kg vôi trong 50 lít nước, sau đó gạn lấy phần nước trong đem đun nóng tới khoảng 55-60oC rồi cho hạt vào ngâm 18-24 giờ. Vớt hạt giống ra đem đãi, rửa cho thật sạch nhớt bằng nước sạch. Trong quá trình đãi, rửa cần loại bỏ những hạt lép, đen, mốc. Dụng cụ để ủ hạt giống có thể dùng rổ, rá, thúng hoặc sọt đan dày tuỳ theo khối lượng giống cần ủ, với điều kiện dễ thoát nước. Phía dưới lót một lớp lá chuối hay rơm khô sạch, sau đó một lớp bao đay sạch. Đổ hạt giống vào và dùng một hay hai bao tải sạch khác tủ lên trên và trên cùng tủ thêm các lớp rơm rạ để giữ nhiệt. Hàng ngày kiểm tra nếu thấy hạt giống bị khô thì phải dùng nước ấm (30-40oC) để tưới cho hạt đủ ẩm. Sau 5 ngày kể từ khi ủ hạt cần thường xuyên kiểm tra nếu thấy hạt đã nhú mầm thì đem ươm vào bầu ngay, đồng thời loại bỏ kịp thời những hạt bị thâm đen, nấm mốc để tránh lây lan. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm là từ (30-32oC), do vậy ở những nơi có nhiệt độ thấp cần có biện pháp giữ nhiệt cho đủ ấm bằng việc thường xuyên tưới nước nóng, hoặc để trong nhà bếp và ban ngày đem phơi nắng nhưng phải đậy kín để tránh bị khô.
Ở những nơi trong giai đoạn ủ hạt nhiệt độ không thấp lắm có thể ủ hạt ngay trên luống đất. Luống ủ hạt cao 10-15cm, rộng 1,0-1,2m. Trước khi rải hạt cần rải một lớp cát sạch 1-2cm, tiếp đến là lớp hạt giống dày 3-4cm rồi phủ một lớp cát dày 1-2cm và trên cùng phủ một lớp bao đay hoặc rơm rạ để giữ nhiệt. Ban ngày để che nắng chiếu trực tiếp trên luống và tưới đủ ẩm. Ban đêm cần che tủ kỹ để giữ nhiệt.
b. Xử lý thúc mầm với hạt đã bóc vỏ thóc
Phương pháp này có ưu điểm là rút ngắn được thời gian ủ hạt, nhưng chỉ thích hợp khi số lượng hạt giống ít. Đối với số lượng hạt giống nhiều và đặc biệt là loại hạt giống đã qua thời gian bảo quản dài xử lý thúc mầm khó, hạt dễ bị hư hỏng. Để hạt mọc mầm tốt cần đem hạt giống ra hong dưới nắng khi thấy vỏ thóc hơi giòn sau đó đem đi bóc bằng tay hoặc dùng chân chà nhẹ sao cho lớp vỏ thóc tách rời ra. Tiếp đó lựa bỏ những hạt dị dạng, sâu mọt, ...rồi đem ngâm trong nước sạch nóng (50-55oC) trong khoảng thời gian 16-18 giờ. Sau đó đãi sạch lớp vỏ lụa bám xung quanh hạt rồi đem ủ thúc mầm như trường hợp hạt không bóc vỏ thóc. Điều cần lưu ý là trong thời gian 4-5 ngày đầu phải thường xuyên kiểm tra nếu thấy vẫn còn ít vỏ lụa lẫn trong khối hạt thì phải đem đi đãi lại cho thật sạch để tránh bị thối.
c. Cho hạt vào bầu
Thông thường sau 5 ngày kể từ khi ủ hạt đã bắt đầu nẩy mầm. Do hạt không nảy mầm cùng lúc nên hàng ngày tiến hành kiểm tra nếu thấy hạt đã nhú màm phải đem cho vào bầu ngay tránh để rễ dài ra bị gãy hoặc bị cong queo khi cho vào bầu. Dùng ngón tay trỏ hoặc que nhọn có đường kính khoảng 1cm chọc một lỗ ngay giữa bầu đất, rồi đặt hạt đã nẩy. Độ sâu đặt hạt cách mặt đất 1,5-2 cm và lấp đất lại. Sau khi cho hạt vào bầu xong có thể dùng trấu rải lên mặt bầu hoặc dùng rơm phủ lên một lớp mỏng để khi tưới hạt không bị xê dịch.
Trong trường hợp hạt ủ đã nhú mầm mà bầu đất chưa kịp đóng xong, để tránh cho rễ không bị gãy do phát triển quá dài trong lúc đợi bầu đất có thể ươm hạt ra luống đất đã làm sẵn. Gieo hạt thành từng hàng, hạt cách hạt khoảng 1cm và hàng cách hàng khoảng 3-4cm. Cách gieo hạt vào luống tương tự như gieo hạt vào bầu, sau đó phủ lên trên một lớp cát dày khoảng 0,5cm và tưới nước đủ ẩm. Khi cây con còn ở giai đoạn đội mũ chưa bung lá sò tiến hành bứng cây để chuyển vào bầu đất. Dùng que nhọn đường kính khoảng 2-3cm chọc một lỗ ngay giữa bầu tới độ sâu 10-12cm, đưa bộ phận rễ xuống một cách cẩn thận sao cho không làm cong đầu rễ, cổ rễ hơi nằm sâu dưới mặt đất, sau đó dùng que lèn đất dọc theo chiều dài của rễ. Vừa lèn đất vừa lấy tay kéo nhẹ cây lên để cho rễ được thẳng. Trong quá trình bứng cây cho vào bầu cần loại bỏ tất cả những cây có bộ rễ cong rễ bị xoắn hoặc có hai, ba rễ cọc. Nên dành một số bầu ở mép hàng để ươm 2 cây dùng trồng giặm vào những bầu có cây chết.
2.5. Chăm sóc, huấn luyện cây con
2.5.1. Tưới nước - làm cỏ
Dùng ô doa cứ 2-3 ngày tưới một lần. Thời gian đầu tưới bằng nước lã, khi cây đã có từ 1-2 cặp lá thật có thể dùng phân urê hoà loãng 0,1-0,15% để tưới. Khi cây có từ 3 cặp lá thật, tăng nồng độ lên 0,2-0,3%, sau khi tưới xong đợi cho lá khô ráo thì tưới lại bằng nước lã. Tưới phân vào lúc buổi sáng và cách nhau 15-20 ngày tưới một lần. Ngoài ra nên dùng thêm nước ngâm phân hữu cơ, khô dầu pha thật loãng để tưới. Sau khi tưới xong cần tưới lại bằng nước lã để phân không bám trên mặt lá làm lá bị cháy. Nếu thấy có cỏ dại xuất hiện trên mặt bầu phải kịp thời nhổ bỏ. Thường xuyên phá vỡ lớp váng trên mặt bầu bằng cách dùng tay bóp nhẹ xung quanh miệng bầu hoặc dùng que xăm bới.
2.5.2. Điều chỉnh ánh sáng
Từ mọc cho đến khi cây có một cặp lá thật chỉ để khoảng 15-20% lượng ánh sáng tự nhiên chiếu xuống. Khi cây được 2-3 cặp lá thật điều chỉnh tăng độ chiếu sáng lên 30-40%. Từ 3-4 cặp lá để khoảng 50-70% lượng chiếu sáng và trước khi đem trồng khoản một tháng dỡ bỏ hoàn toàn giàn che để cây quen dần với ánh sáng ngoài đồng ruộng. Cây con đủ tiêu chuẩn trồng khi đã có 5-6 cặp lá thật, cao từ 20-30 cm và có đường kính thân trên 3mm.
III. Nhân giống vô tính
Nhân giống cà phê vô tính bằng nhiều phương pháp như ghép khác nhau như giâm cành, nuôi cấy mô...nhưng chỉ có phương pháp ghép và giâm cành là được áp dụng rộng rãi nhất trong sản xuất vì không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị chuyên dùng, giá thành thấp.
1. Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép
1.1. Thiết lập vườn nhan chồi ghép
Để đảm bảo đủ chồi ghép có chất lượng tốt cần phải thiết lập các vườn nhân chồi ghép. Vườn nhân chồi ghép nên bố trí gần với vườn ươm, vừa tiện lợi cho việc quản lý, chăm sóc, vừa thuận lợi cho việc thu hoạch, bảo quản và vận chuyển chồi. Thiết kế vườn thành các luống rộng khoảng 1,2-1,6m dài 10-20m tuỳ theo địa điểm, số dòng vô tính và số lượng mỗi dòng vô tính cần nhân. Cày, xới làm tơi lớp đất sâu tới 30-40cm sau đó trộn đầu với phân chuồng đã hoai mục và phân lân theo tỷ lệ mỗi 1m2 trộn 15-20 kg phân chuồng + 2-3 kg phân lân . Giữa các luống chừa một lối đi khoảng 0,5m đắp cao hơn luống khoảng 15-20cm. Mật độ trồng tuỳ theo khả năng sinh trưởng của mỗi dòng vô tính. Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa khi cây con đã có khoảng 3-4 cặp lá. Sau khi trồng khoảng 3-4 tháng có thể thu lứa chồi đầu tiên. Để kích thích cho cây ra chồi cần cắt sát mặt đất khoảng 10-15cm và chừa lại đôi lá gốc (đối với cây trồng bằng cành giâm) và chừa lại một đốt cùng cặp lá của phần ngọn ghép (đối với cây trồng bằng cây ghép). Các chồi mới khi đã có từ 2 đốt trở lên là tiến hành thu chồi. Khi cắt cũng chừa lại một đôi lá gốc. Sau mỗi lần cắt bón phân hoá học với mức 150 g urê + 30 - 40g K2SO4/m2. Đồng thời thường xuyên tưới nước đủ ẩm, bón phân hữu cơ và phòng ngừa trừ sâu bệnh hại để cho chồi luôn phát triển khoẻ mạnh, khi ghep đạt tỷ lệ sống cao. Cứ sau 10 - 15 ngày kiểm tra các chồi nếu thấy các cành ngang đã hình thành thì kịp thời ngắt bỏ các cành ngang này. Tốt nhất mỗi gốc chỉ nên duy trì 3-4 chồi. Vườn nhân chồi nếu được quản lý, chăm sóc tốt có thể khai thác được tới 3-4 năm và mỗi năm một ha vườn nhân chồi có thể cung cấp được 1,5 - 2 triệu chồi/năm. .
1.2. Kỹ thuật ghép
Hầu hết các phương pháp ghép áp dụng cho các loại cây ăn quả đều có thể dùng để ghép cho cây cà phê. Tuy nhiên từ những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy phương pháp ghép nối ngọn là thích hợp hơn cả. Vì vậy, trong phần này chỉ trình bày phương pháp ghép nối ngọn trong cả hai trường hợp đối với gốc ghép đã được ươm trong bầu 4-6 tháng tuổi và đối với gốc ghép còn non đang ở giai đoạn đội mũ (ghép dưới trục hạ diệp). Cho đến nay chưa thấy một ghi nhận nào về sự không tương thích cũng như ảnh hưởng xấu của chồi ghép và gốc ghép giữa 3 loài cà phê chè, vối và mít. Do vậy ghép không những là một phương pháp nhân vô tính mà còn là một phương pháp nhân giống tạo tính kháng tuyến trùng đặc bịêt là đối với các giống cà phê chè bằng cách ghép trên gốc cà phê vối có mang tính kháng cao.
a. Gốc ghép có từ 4-6 tháng tuổi: những cây non được nhân bằng con đường hữu tính như đã trình bày ở mục II trên đây khi đã có từ 3 cặp lá thật trở lên là có thể sử dụng để làm gốc ghép. Dùng kéo cắt bỏ phần ngọn non cách cặp lá phía dưới khoảng 3-4 cm sau đó từ đỉnh vết cắt bổ dọc đoạn thân xuống phía dưới dài chừng 2-3cm.
Chồi ghép là một đoạn ngọn thu từ vườn nhân chồi ghép dài chừng 4-5cm có mang một cặp lá còn non hoặc bánh tẻ và một đỉnh sinh trưởng. Dùng kéo cắt bớt 2/3 phiến lá để làm giảm quá trình mất nước sau đó dùng dao sắc cắt vát hai phía của đoạn chồi phía dưới tương ứng với 2 phía mang lá để tạo thành hình một cái nêm. Đoạn vát dài từ 2-3cm.
Đưa chồi ghép vào gốc ghép sao cho hai lớp vỏ của chồi ghép và gốc ghép tiếp giáp thật tốt với nhau, sau đó dùng dây nylon rộng 1-1,2cm, dài 25-30cm buộc thật chặt phần tiếp xúc giữa gốc ghép và chồi ghép nếu độ ẩm không khí quá thấp thì sau khi ghép xong dùng một bao nylon buộc chụp lên phần chồi ghép trong tuần đầu sau khi ghép để hạn chế sự bốc thoát hơi nước. Sau thời gian ghép khoảng một tháng khi thấy chồi ghép đã tiếp hợp tốt bắt đầu ra lá mới thì cắt bỏ dây buộc.
b. Gốc ghép còn non (giai đoạn đội mũ). Phương pháp này thường được sử dụng để ghép các giống cà phê chè trên gốc cà phê vối có khả năng kháng được tuyến trùng hại rễ nhằm tạo ra các giống cà phê chè có khả năng kháng được tuyến trùng. Thực chất đây không phải là phương pháp nhân giống vô tính mà là nhân giống hữu tính vì chồi ghép được dùng là những cây cà phê chè được gieo ươm bằng hạt.
+ Chuẩn bị gốc ghép: dùng hạt của các giống cà phê vối có khả năng kháng cao với tuyến trùng hạt rễ để gieo ương làm gốc ghép. Khi hạt ủ đã bắt đầu nhú mầm có thể đem ươm trực tiếp trên luống rộng từ 1-1,2m (nếu ương cây con trên luống) theo khoảng cách 20x20 cm hoặc trực tiếp vào bầu như trường hợp nhân hữu tính đã nêu ở phần trên. Khi cây mọc tới giai đoạn đội mũ (hình dạng trông giống que diêm) có thể dùng làm gốc ghép. Dùng kéo cắt bỏ phần ngọn, sau đó dùng dao mỏng, sắc vát nhẹ 2 bên gốc của ngọn ghép chừng 0,5-1cm.
Dùng tay đưa nhẹ phần vát của ngọn vào vị trí đã bổ của gốc ghép tự hoại buộc chặt phần tiếp giáp giữa gốc và chồi ghép. Kỹ thuật chăm sóc huấn luyện cây sau khi ghép tương tự như phương pháp nhân giống hữu tính. Sau khi ghép xong dùng lớp nylon trắng làm thành vòm che kín trên luống để giữ ẩm trong tuần đầu.
2. Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành
2.1. Bể giâm
Bể giâm có thể xây gạch đóng bằng ván gỗ hoặc dùng tre làm thành khung dạng vòm, phía trên/ ngoài đậy nắp kính hoặc bọc một lớp nylon thấu quang đủ độ bền với điều kiện sao cho thật kín để giữ độ ẩm bên trong luôn ở mức gần bão hoà và nhiệt độ ổn định trong khoảng 24-28oC, đồng thời phải cho ánh sáng tán xạ đi qua chừng 20-25% lượng ánh sáng tự nhiên. Toàn bộ bể giâm cành phải được đặt dưới một giàn che cao khoảng 2-2,5cm, như giàn che cho vườn ươm. Trong 2 tuần lễ đầu nên che bớt khoảng 75-80% ánh sáng tự nhiên sau điều chỉnh dần chỉ để khoảng 40%. Có thể dùng cát sạch, mùn cưa, vỏ trấu, vỏ cà phê khô đã hoai dùng riêng hoặc trộn lẫn với nhau dùng làm nên (giá thể). Để bể ngâm thoát nước tốt phía dưới đáy rải một lớp đá, sỏi dày chừng 20-30cm sau đó mới rải lớp chất nền dày chừng 25-30cm. Sau khi rải xong dùng các loại thuốc trừ nấm như Zinep, Manep ...(trừ các loại thuốc có gốc đồng) phun đều lên trên chất nền.
2.2. Chọn và xử lý giâm cành
Chỉ sử dụng các loại chồi vượt và thân chính để làm cành giâm, không được sử dụng các cành ngang. Chọn các chồi vượt từ vườn nhân chồi có từ 6-8 đốt đang ở giai đoạn bánh tẻ, vỏ còn xanh, đường kính trên 400 để thu hoạch.Trước khi thu hoạch khoảng một tuần đến 10 ngày cắt bỏ phần ngọn còn non. Thời gian thu hoạch chồi trước 9 giờ sáng mỗi ngày để tránh bị khô héo. Chồi thu về dùng kéo cắt thành từng đoạn, mỗi đoạn là một lóng đốt dài 5-6cm có mang một cặp lá. Vết cắt phía trên cọc lá hơi xiên và cách cuống lá từ 4-5mm, không gây xước hoặc dập nát lớp vỏ. Cặp lá này được cắt bỏ bớt chỉ giữ lại 1/3 đến 1/4 diện tích mỗi lá. Phân đuôi được cắt vát hai bên tạo thành hình cái nêm. Sau khi chuẩn bị xong nhúng cành vào nước sạch rồi đem cắm cào bể giâm. Mật độ căm khoảng từ 400-500 cành/m2. Hàng ngày dùng nước sạch tưới 2 lần vào sáng sớm và xế chiều mỗi lần 1-2 lít nước/m2 và nhặt bỏ kịp thời những lá rụng và cành bị thối. Thời gian từ khi đưa cành vào bể giâm cho đến khi ra ngôi khoảng 10-15 ngày dỡ bỏ dần tấm che phía trên và hạn chế tưới nước để cành giâm quen dần với môi trường mới. Sau khi ra ngôi xong nếu muốn giâm lại đợt khác thì phải để cho nền được nghỉ khoảng 2 tuần. Trong 2 tuần đó tiến hành xới xáo lại lớp nền, nhặt bỏ các đoạn chồi, lá thối có lẫn trong nền, dội nước rửa sạch và dùng thuốc diệt nấm để phun trước khi đưa cành vào giâm lại. Sau 2-3 đợt giâm thì mới thay chất nền.
2.3. Ra ngôi và chăm sóc cây trong vườn ươm
Sau thời gian 2,5-3,5 tháng trong bể giâm cành đã có bộ rễ dài trên 7 cm và thường thì mỗi cành có 1-3 rễ chính mọc thẳng đứng và hệ thống rễ tơ. Chỉ chọn những cành giâm có bộ rễ phát triển tốt để ra ngôi và loại bỏ những cành có bộ rễ kém phát triển. Sau khi bứng cành ra khỏi bể giâm kiểm tra lại bộ rễ trước khi cho vào bầu đất. Nếu thấy có từ 2 rễ chính trở lên thì tiến hành cắt bỏ bớt chỉ giữ lại một rễ to khoẻ. Trường hợp rễ chính quá dài cũng nên cắt ngắn lại chỉ để dài từ 7-10 cm nhằm tránh bị cong rễ khi cho vào bầu. Do cây giâm cành phát triển nhanh và khoẻ hơn so với cây thực sinh nên bầu dùng để ươm cây giâm cành nên làm to hơn. Tốt nhất là sử dụng loại bầu có kích thước 20x30cm. Đất vào bầu tương tự như đất vào bầu đối với cây thực sinh. Dùng một que gỗ nhọn đường kính 2-3cm chọc một lỗ ngay giữa bầu đất sâu 15cm, đưa bộ rễ cành giâm xuống sao cho không bị gấp khúc hoặc cong queo, cuốn lá cách mặt bầu 1-1,5cm rồi nén đất chặt đều bốn phía. Cành giâm đã ra ngôi xong đem đặt thành luống trong vườn ươm như vườn cây thực sinh. Những ngày đầu cần che mát hoàn toàn phía trên và tưới nước đủ ấm. Việc chăm sóc sau khi ra ngôi tương tự như chăm sóc cây thực sinh. Sau khoảng 4-5 tháng cây đã đạt chiều cao từ 17-20cm, có từ 5 cặp lá và 1-2 cặp cành ngang là có thể đem trồng. Trước khi đem trồng cắt bỏ cành ngang mọc sát đất.
Cục Nông Nghiệp
(2006-01-05)
Kỹ thuật sản xuất phân vi sinh
Ở Việt Nam, phân VSV cố định đạm cây họ đậu và phân VSV phân giải lân đã được nghiên cứu từ năm 1960 và đến năm 1987 phân Nitragin trên nền chất mang than bùn mới được hoàn thiện và đến năm 1991 đã có hơn 10 đơn vị trong cả nước tập trung nghiên cứu phân vi sinh vật. Các nhà khoa học đã phân lập được nhiều chủng vi sinh vật cố định đạm và một số VSV phân giải lân.
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại phân VSV khác nhau, nhưng theo mật độ VSV hữu ích có thể chia làm 2 loại như sau:
- Phân VSV có mật độ VSV hữu ích cao (trên 108 tế bào/gam) và do chất mang được thanh trùng nên VSV tạp thấp. Liều lượng bón từ 0,3-3kg/ha.
- Phân VSV có mật độ VSV hữu ích thấp (106-107 tế bào/gam) và VSV tạp cao do nền chất mang không được thanh trùng. Liều lượng bón có thể từ 100-1.000kg/ha
Quá trình sản xuất phân vi sinh theo 2 giai đoạn chủ yếu:
Giai đoạn 1: Tạo nguyên liệu cho sản xuất còn gọi là chất mang. Chất mang được dùng là các hợp chất vô cơ (bột photphorit, bột apatit, bột xương, bột vỏ sò,..) hay các chất hữu cơ (than bùn, bã nấm, phế thải nông nghiệp, rác thải,..). Chất mang được ủ yếm khí hoặc hiếu khí nhằm tiêu diệt một phần VSV tạp và trứng sâu bọ, bay hơi các hợp chất dễ bay hơi và phân giải phần nhỏ các chất hữu cơ khó tan.
Giai đoạn 2: Cấy vào nguyên liệu trên các chủng vi sinh vật thuần khiết trong điều kiện nhất định để đạt được hiệu suất cao. Mặc dù VSV nhỏ bé nhưng trong điều kiện thuận lợi: đủ chất dinh dưỡng, có độ pH thích hợp, CO2 và nhiệt độ môi trường tối ưu chúng sẽ phát triển cực kỳ nhanh chóng (hệ số nhân đôi chỉ 2-3giờ); Ngược lại trong điều kiện bất lợi chúng sẽ không phát triển hoặc bị tiêu diệt, dẫn đến hiệu quả của phân bị giảm sút. Để cho phân vi sinh được sử dụng rộng rãi, người ta thường chọn các chủng vi sinh có khả năng thích nghi rộng hoặc dùng nhiều chủng trong cùng một loại phân.
Như vậy, qui trình sản xuất phân vi sinh trước tiên là tạo thành phân mùn hữu cơ cao cấp. Tùy từng địa phương và cơ sở sản xuất cụ thể mà lựa chọn nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ cao cấp khác nhau như than bùn, mùn rác thành phố (phân rác lên men), phân bắc (hầm cầu), phân gà công nghiệp, phân heo, trâu, bò, dê,..hoặc phân từ nguồn phế thải của quá trình chế biến của các nhà máy như mía, mụn dừa, vỏ trái cây, .. Nói chung là đi từ nguyên liệu nào có thể biến thành mùn. Sau đó là quá trình phối trộn, cấy các chủng vi sinh vào mùn.
Phân phức hợp hữu cơ vi sinh được sản xuất từ phế thải của nhà máy đường theo công nghệ của FITOHOOCMON được Bộ Khoa học và công nghệ cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích về “Quy trình sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh”, như sau:
- Giai đoạn lên men nguyên liệu: Nguyên liệu là bùn mía, tro lò, than bùn được lên men tạo thành mùn hữu cơ cao cấp
- Giai đoạn phối trộn và cấy vi sinh vật hữu ích: Phối trộn theo công thức định sẵn tùy theo yêu cầu chất lượng phân và cấy VSV thuần khiết vào môi trường mùn hữu cơ.
Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ nguồn nguyên liệu mụn dừa rất phong phú ở Bến Tre là phế thải của các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa. Quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ mụn dừa được mô tả như sau:
- Giai đoạn sản xuất giá thể (đất sạch): Nguyên liệu mụn dừa được xử lý để giảm hàm lượng muối (giảm EC) và giảm hàm lượng Tanin. Sấy hoặc phơi khô, sau đó được phối trộn với chất dinh dưỡng chậm tan và chất phụ gia. Ép đóng thành bánh hoặc đóng bao để dễ dàng vận chuyển.
- Sản xuất phân bón: Chế phẩm vi sinh gốc được nhân sinh khối, sau đó được tưới đều vào nguyên liệu mụn dừa. Ủ hảo khí để có nguyên liệu bán thành phẩm.
- Từ mụn dừa bán thành phẩm sẽ phối trộn các vi sinh vật hữu ích để có được sản phẩm phân hữu cơ vi sinh.
Vỏ trái ca cao cũng là đề tài nghiên cứu sản xuất phân bón và thức ăn cho bò đang được thực hiện trong giai đoạn thử nghiệm mô hình.
Ở quy mô hộ gia đình cũng có thể sản xuất phân hữu cơ vi sinh có mật độ thấp nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu phân bón bằng cách tận dụng rác thải, phân chuồng ủ thành đống một thời gian thành mùn (phân compost), sau đó trộn với vi sinh để bón cho cây trồng. Tạo đống ủ bằng cách đào lỗ (nơi không ngập nước) hoặc khoanh liếp tre như ví lúa,..Nguyên liệu cần được chặt hoặc bằm, xay nhỏ càng tốt. Tưới dung dịch E.M (chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu) cho đều, thử độ ẩm thích hợp bằng cách bóp nguyên liệu ủ trong nắm tay vừa ướt, vón cục nhưng không chảy nước. Nén chặt và đậy đống ủ bằng bao bố cũ hoặc đậy lá chuối và dùng bùn phủ lên một lớp mỏng. Giữa đống ủ cắm một khúc cây để thăm dò nhiệt độ đống ủ, đồng thời để bổ sung ẩm (bù lượng nước hao hụt trong những ngày khô hạn). Khoảng một tháng có thể vỡ ra, trộn lại đống ủ và bổ sung dung dịch E.M, ủ tiếp (có thể thêm phân đạm, lân hòa với nước). Chế phẩm vi sinh vật hiện nay tương đối dễ tìm và rẻ là E.M có bán ở Viện Khoa học Nông nghiệp, các Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ,... Đối với các nguyên liệu có khả năng tạo thành chất chua như bả đậu, hèm rượu, thạch dừa hư,.. thì nhất thiết phải được bổ sung vôi để khử chua và hạn chế tạp khuẩn, đồng thời bổ sung chế phẩm vi sinh thường xuyên để phân huỷ nhanh và cạnh tranh với men tạp.
Ở một số nơi, người ta còn ngâm các nguồn nguyên liệu hữu cơ giàu đạm trong nước (cá vụn, bánh dầu,..) để một thời gian tưới cho cây trồng, cây kiểng. Làm như vậy gây ô nhiễm môi trường vì mùi hôi, ruồi, dòi,..tác động xấu đến không khí xung quanh, làm dơ nguồn nước. Nên ngâm trong vật chứa kín và mỗi tháng pha với dung dịch EM bán trên thị trường tỷ lệ 1/1.000, nếu có thể sử dụng thêm chế phẩm protease (men phân huỷ protein) thì thời gian phân huỷ được rút ngắn và đạm trong nước tưới dễ tiêu hơn.
Trong điều kiện các loại vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm đang ngày càng có nguy cơ phát tán như H5N1, bệnh heo tai xanh,..Chúng ta nên hạn chế cách ngâm trong nước và tuyệt đối không ngâm súc vật chết mà phải chôn trong đất, có khử trùng bằng vôi hoặc hóa chất khử trùng mạnh hơn.
Phân hữu cơ vi sinh thật gần gũi vì nguồn nguyên liệu hữu cơ luôn có chung quanh nhưng cũng thật lạ lẫm vì nguồn vi sinh khó tiếp cận! Không sao cả vì hiện nay các chế phẩm vi sinh ngày càng phổ biến như Tricoderma có hoạt tính xenlulaza cao (phân huỷ chất xơ), chế phẩm EM gồm 80 loài vi sinh vật có ích đang có bán ở nhiều nơi.
| |
|---|
Sản xuất phân lân hữu cơ Vi Sinh/Chất trồng cây
>
Nitragin là loại phân được chế tạo bởi vi khuẩn Rhizolium do Beijerink phân lập năm 1888 và được Fred đặt tên vào năm 1889 dùng để bón cho các loại cây thích hợp của họ đậu. Từ đó cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm ứng dụng và mở rộng việc sản xuất các loại phân bón vi sinh cố định nitơ mà thành phần còn được phối hợp thêm một số vi sinh vật có ích khác như một số xạ khuẩn cố định nitơ sống tự do Frankia spp, Azotobacter spp, các vi khuẩn cố định nitơ sống tự do clostridium, pasterium, Beijerinkiaindica, các xạ khuẩn có khả năng giải cellulose, hoặc một số chủng vi sinh vật có khả năng chuyển hóa các nguồn dự trữ phospho và kali ở dạng khó hoà tan với số lượng lớn có trong đất mùn, than bùn, trong các quặng apatit, phosphoric v.v... chuyển chúng thành dạng dễ hoà tan, cây trồng có thể hấp thụ được.
Nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh ngày càng tăng vì:
- Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh sẽ thay thế dần việc bón phân hoá học trên đồng ruộng, đất trồng trọt mà vẫn đảm bảo được nâng cao năng suất thu hoạch.
- Sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh về lâu dài sẽ dần dần trả lại độ phì nhiêu cho đất như làm tăng lượng phospho và kali dễ tan trong đất canh tác, cải tạo, giữ độ bền của đất đối với cây trồng nhờ khả năng cung cấp hàng loạt các chuyển hoá chất khác nhau liên tục do nhiều quần thể vi sinh vật khác nhau tạo ra.
- Việc sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh còn có ý nghĩa rất lớn là tăng cường bảo vệ môi trường sống, giảm tính độc hại do hoá chất trong các loại nông sản thực phẩm do lạm dụng phân bón hóa học.
- Giá thành hạ, nông dân dễ chấp nhận, có thể sản xuất được tại địa phương và giải quyết được việc làm cho một số lao động, ngoài ra cũng giảm được một phần chi phí ngoại tệ nhập khẩu phân hoá học.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, dựa vào thế mạnh của Viện có một đội ngũ kỹ sư vi sinh, kỹ sư nông nghiệp khá đông, với đầy đủ trang thiết bị cần thiết cho việc bảo quản giống và cung cấp giống ban đầu với một cơ sở nông trại chăn nuôi trồng trọt bảo đảm đủ điều kiện cho việc sản xuất phân hữu cơ vi sinh có chất lượng. Được sự giúp đỡ của trung tâm nghiên cứu vi sinh vật học ứng dụng và Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ở Hà Nội, bước đầu cơ sở đã đi vào sản xuất và thu được một số kết quả khả quan.
Quá trình sản xuất được thực hiện dựa trên cơ sở:
1- Chủng giống vi sinh vật do Trung tâm nghiên cứu vi sinh vật học ứng dụng cung cấp gồm các chủng loại sau:
- Vi khuẩn cố định đạm (T6): Azotobacter
- Vi khuẩn phân giải phospho và kali khó tan (H1, H2): B. megathelium var. phosphoticum.
- Xạ khuẩn phân giải chất xơ (L1, L3): Actinomyces.
Hoạt tính của các chủng có thể tóm tắt:
Các chủng trên có các chức năng:
- Phân giải các hợp chất xơ tạo ra nguồn năng lượng cung cấp các vi sinh vật khác có điều kiện phát triển và làm giàu thêm độ xốp của đất.
- Chủng cố định được nitơ phân từ từ khi trời làm giàu nguồn đạm cho đất.
-Chuyển hoá lân từ các nguồn lân khó tan thành dễ tan để cho cây dễ hấp thụ.
2- Nguồn nguyên liệu:
- Than bùn đã được hoạt hoá
- Rác phế thải có nguồn gốc từ thực vật.
- Quặng apatit hay phosphorit nghiền nhỏ
- Phân chuồng đã được ủ diệt các trứng ký sinh trùng
Phân chuồng và rác là hai nguồn nguyên liệu dồi dào có sẵn ở nông trại và có thể cung cấp liên tục lâu dài.
3- Phương pháp và kỹ thuật tiến hành có thể mô tả như sau:
- Giai đoạn 1: Nghiền nhỏ quặng, hoạt hoá than bùn để đảm bảo được pH thích hợp và xử lý phân chuồng, rác phế thải với vôi để diệt các trứng của ký sinh trùng.
- Giai đoạn 2: Bao gồm từ chủng giống đến khi thành phẩm và tiến hành qua các bước sau:
* Bước1: Bảo quản các chủng giống bằng cách đông khô. Đây là phương pháp bảo quản tương đối ưu việt vì giữ chủng được lâu dài mà các hoạt tính của chủng vẫn được bảo đảm, khi sản xuất giống sẽ được nhân qua các môi trường đặc hiệu.
* Bước 2: Tạo nguồn nguyên liệu nền và nhân giống.
- Tạo nguồn nguyên liệu nền
- Nhân giống: Giống được nhân lên qua môi trường rỉ đường có bổ sung một số các nguyên tố thích hợp và được nuôi cấy trên máy lắc, sau đó nhân tiếp qua hệ thống sục khí ở nhiệt độ 37 - 45oC/72 giờ (giống C2).
* Bước 3: Lên men bán rắn.
4- Phương pháp kiểm tra:
- Kiểm tra số lượng các vi sinh vật có mặt trong sản phẩm bằng phương pháp đếm số lượng khuẩn lạc đặc trưng.
- Đo lường khả năng phân giải cellulose qua kích thước các vòng phân giải.
- Định lượng NH3 và NO3 tạo thành.
- Thử nghiệm qua thực địa so với đối chứng.
Qua kết quả phân tích ở trong phòng thí nghiệm cũng như ở trên thực địa, với hơn 20 tấn phân đã được sản xuất và sử dụng để bón mía và cỏ cung cấp cho súc vật thí nghiệm tại trại Suối Dầu, cho thấy phân hữu cơ vi sinh được sản xuất ở trại Suối Dầu đạt yêu cầu về chất lượng và có hiệu quả tác dụng thật sự trên đồng ruộng. Hy vọng phân hữu cơ vi sinh do trại Suối Dầu sản xuất sẽ góp một phần giải phân cho dự án an toàn thực phẩm trong vùng.
LÊ CHÍ KHÁNH
Viện Vắcxin Nha Trang - Đà Lạt
Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ Lâm Đồng, số 3.1996
Thứ Tư, 22 tháng 10, 2008
Kỹ thuật nuôi trùn quế

Trùn quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae (họ cự dẫn), ngành ruột khoan. Chúng thuộc nhóm trùn ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với phần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài trùn địa phương sống trong đất.
Trùn quế là một trong những giống trùn đã được thuần háo, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp với các quy mô vừa và nhỏ. Đây là loài trùn mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Chúng được sử dụng rộng rãi trong việc chuyển hóa chất thảm ở Philippines, Australia và một số nước khác (Gurrero, 1983; Edwards, 1995).
Kích thước Trùn quế trưởng thành từ 10 – 15 cm, nước chiếm khoảng 80 – 85%, chất khô khoảng 15 – 20%. Hàm lượng các chất (tính trên trọng lượng chất khô) như sau: Protein: 68 –70%, Lipid: 7 – 8%, chất đường: 12 –14 %, tro 11 – 12%.
Do có hàm lượng Protein cao nên Trùn quế được xem là nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản… Ngoài ra, Trùn quế còn được trong y học, công nghệ chế biến thức ăn gia súc…
Phân trùn là loại phân hữu cơ sinh học có hàm lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, không gây ra tình trạng “sốc” phân, yêu cầu trữ dễ dàng, đặc biệt thích hợp cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vườn ươm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch.
B. Đặc tính sinh học của Trùn quế:
Trùn quế có kích thước tương đối nhỏ, độ dài vào khoảng 10 –15 cm, thân hơi dẹt, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1 – 0,2 cm, có màu từ đỏ đến màu mận chín (tùy theo tuổi), màu nhạt dần về phía bụng, hai đầu hơi nhọn. Cơ thể trùn có hình thon dài nối với nhau bởi nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vành tơ. Khi di chuyển, các đốt co duỗi kết hợp các lông tơ phía bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển một cách dễ dàng.
Trùn quế hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu Oxy và thải CO2 trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước nhiều lần, thậm chí trong nhiều tháng.
Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt. các cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng Amoniac và Urer. Trùn quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày được nhiều nhà khoa học ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể của nó. Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải ra phân (Vermicas) ra ngoài rất giàu dinh dưỡng (hệ số chuyển hóa ở đây vào khoảng 0.7), những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể trùn nhưng vẫn còn hoạt động ở “màng dinh dưỡng” trong một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên.
C. Đặc tính sinh lý của Trùn quế:
Trùn quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn. Nhiệt độ thích hợp nhất với Trùn quế nằm trong khoảng từ 20 – 30oC, ở nhiệt độ khoảng 30oC và độ ẩm thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ quá thtấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết. Chúng có thể chết khi điều kiện khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường nước có thổi Oxy.
Trùn quế quế rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn định. Qua các thí nghiệm thực hiện, chúng tôi nhận thấy chúng thích hợp nhất vào khaỏng 7.0 – 7.5, nhưng chúng có khả năng chịu đựng được phổ pH khá rộng, từ 4 – 9, nếu pH quá thấp, chúng sẽ bỏ đi.
Trùn quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm…). Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao se hấp dẫn chúng hơn, giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn.
Trong tự nhiên, Trùn quế thích sống nơi ẩm thấp, gần cống rãnh, hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thốI rữa như trong các đống phân động vật, các đống rác hoai mục. chúng rất ít hiện diện trên các đồng ruộng canh tác dù nơi đây có nhiều chất thải hữu cơ, có lẽ vì tỷ lệ C/N của những chất thải này thường cao, không hấp dẫn và không đảm bảo đềiu kiệm ẩm độ thường xuyên.
D. Sự sinh sản và phát triển:
Trùn quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam. Theo nhiều tài liệu, từ một cặp ban đầu trong điều kiện sống thích hợp có thể tạo ra từ 1.000 –1.500 cá thể trong một năm.
Trùn quế là sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con, kén được hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 – 20 trứng, kén Trùn di chuyển dần về phía đầu và hơi ra đất. Kén áo hình dạng thon dài, hai đẩu túm nhọn lại gần giống như hạt bông cỏ, ban đầu có màu trắng đục, sau chuyển sanh xanh nhạt rồi vàng nhạt. Mỗi kén có thể nở từ 2 – 10 con.
Khi mới nở, con nhỏ như đầu kim có màu trắng, dài khoảng 2 – 3mm, sau 5 – 7 ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vằn đỏ thẫm trên lưng. Khoảng từ 15 –30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano, 1997); từ lúc này chúng bắt đầu có khả năng bắt cặp và sinh sản. Con trưởng thành khỏe mạnh có màu mận chín và có sắc ánh kim trên cơ thể.
E. Các mô hình nuôi Trùn quế:
Hiện nay, tên thế giới có nhiều mô hình nuôi Trùn quế: từ đơn giản như nuôi trong khay, chậu trên một diện tích nhỏ, đến nuôi trên đồng ruộng (có hoặc không có mái che), hay nuôi trong những nhà nuôi kiên cố… nhưng nhìn chung, các mô hình này đều phải đảm bảo được những yêu cầu kỹ thuật phù hợp với đặc điểm sinh lý của con Trùn. Ở đây, chúng tôi xin đề xuất một mô hình nuôi thích hợp với quy mô nhỏ trong từng hộ gia đình, quy mô bán công nghiệp và giới thiệu một số nét về quy mô nuôi công nghiệp hiện đại.
1. Nuôi trong khay chậu:
Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối đa các diện tích trống có thể sử dụng được, mô hình này có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản và rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô… Các thùng gỗ chỉ nên có kích thước vừa phải (vào khoảng 0,2 – 0,4 m2 với chiều cao khoảng 0,3m). Các dụng cụ này nên được đặt trên những cái khung nhiều tầng để dễ chăm sóc và tận dụng được không gian.
Các dụng cụ nuôi nên được che mưa gió, đặt nơi có ánh sáng hạn chế càng tốt. Chúng phải được lỗ thoát nước, những lỗ này cần được chặn lại bằng bông gòn, lưới… để không bị thất thoát nước con giống. Do tính ưu tối nên trên mặt của dụng cụ cần được kiểm tra thường xuyên.
Mô hình nuôi này có ưu điểm là dễ thực hiện, có thể sử dụng lao động phụ trong gia đình hoặc tận dụng thời gian rãnh rỗi. Công tác chăm sóc cũng thuận tiện vì dễ quan sát và gọn nhẹ. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là tốn nhiều thời gian hơn các mô hình khác, số lượng sản phẩm có giới hạn, việc chăm sóc cho Trùn phải được chú ý cẩn thận hơn.
2. Nuôi trên đồng ruộng có mái che:
Thích hợp cho quy mô gia đình vừa phải hoặc mở rộng, thích hợp cho những vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có bóng râm vừa phải.
Các luống nuôi có thể đạt độ ẩm trong đất hoặc làm bằng các vật liệu nhẹ như bạt không thấm nước, gỗ…, có bề ngang từ 1 – 2m, độ sâu (hoặc cao) khoảng 30 – 40 cm, bảo đảm thoát nước được nước và thông thoáng. Mái che nên làm ở dạng cơ động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau. Độ dày chất nền ban đầu và thức ăn nên được bổ sung hàng tuần. Luống nuôi cần được che phủ để giữ ẩm, kích thích hoạt động của Trùn và chóng các thiên địch.
3. Nuôi trên đồng ruộng không có mái che:
Đây là phương pháp nuôi truyền thống ở các nước đã phát triển công nghệ nuôi Trùn như Mỹ, Úc.. và có thể thực hiện ở quy mô lớn. Luống nuôi có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2m, chiều dài thường không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi. Với phương pháp này, người nuôi không phải làm lán trại, có thể sử dụng các trang thiết bị cơ giới để chăm sóc và thu hoạch sản phẩm. Nếu cho lượng thức ăn ban đầu ít và bổ sung hàng tuần thì việc thu hoạch cũng khá dễ dàng. Tuy nhiên, phương pháp nuôi này bị tác động mạnh bởi các yếu tố thời tiết, có thể gây tổn hại đến Trùn và cần một diện tích tương đối lớn,
4. Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp:
Là dạng Cải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng và nuôi trong thau chậu. Các khung (bồn) nuôi có thể được xây dựng kiên cố trên mặt đất có kích thước rộng hơn hoặc được sắp thành nhiều tầng. Việc chăm sóc có thể thực hiện bằng tay hoặc các hệ thống tự động tùy theo quy mô. Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi. Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng chi phí xây dựng cơ bản và trang thiết bị cao. Hiện nay, quy mô nuôi công nghiệp vớI những trang thiết bị hiện đại được áp dụng khá phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada.
F. Yêu cầu kỹ thuật của việc nuôi trùn:
Để nuôi trùn quế đạt hiệu quả, cần chú ý một số vấn đề sau:
Về người nuôi:
- Nắm bắt được một số đặc tính sinh lý, sinh thái cơ bản của con Trùn.
- Có kiến thức tối thiểu về các loại chất thải hữu cơ dùng làm thức ăn cho Trùn.
Về luống trại nuôi:
Luống hoặc trại nuôi phải đặt nơi thoáng mát, không bị ngập úng và không nên bị ánh sáng chiếu trực tiếp, có nguồn nước tưới thường xuyên, trung tính và sạch; cần thoát nhiệt, thoát nước tốt. Bảo đảm các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm. Nên có biện pháp ngăn ngừa các thiên địch (kiến, cóc, nhái..)
Về chất nền:
Chất nền có cơ cấu xốp, kết cấu tương đối thô, có khả năng giữ ẩm tốt, không gây phản ứng nhiệt, pH không nằm, ngoài phổ chịu đựng của Trùn, có thể là môi trường sống tạm của Trùn khi gặp điều kiện bất lợi.
Về thức ăn:
Thức ăn là chất thải hữu cơ ở dạng đang phân hủy, không nên có hàm lượng muối và amoniac quá cao, chủng loại tương đối đa dạng nhưng thích hợp nhất là những chất liệu có tỷ lệ C/N vào khoảng 10:1 như phân gia súc, các chất liệu phân hủy thô của ruồi lính đen hấp dẫn Trùn hơn là các loại phân khô hoặc đã qua giai đoạn ủ.
Khi cho ăn, có thể bố trí thức ăn thành những luống nhỏ xen kẽ nhau hoặc đổ thành từng cụm. Lượng thức ăn tùy thuộc vào mật số Trùn hiện có, để có nguồn phân chuyển hóa tương đối hoàn toàn nên chú ý đến thời gian bổ sung thức ăn.
Về độ ẩm:
Nên chú ý tưới giữ ẩm ngay từ khi mới thả giống vì Trùn đã bị sốc khi di chuyển, hàng ngày kiểm tra độ ẩm và tưới bổ sung, tốt nhất là tưới nhiều lần trong ngày khi trời nóng, lượng nước cho mỗi lần tưới ít. Nếu sử dụng chất nền có kết cấu hạt xốp và to thì độ ẩm có thể duy trì ở mức cao và ngược lại.
Trong điều kiện khô nóng cũng nên duy trì ẩm độ cao. Nước tưới nên có pH trung tính, không nhiễm mặn hoặc phèn.
Thu hoạch:
Tùy theo mục đích mà có những phương pháp thu hoạch khác nhau. Ở đây, chúng tôi tạm đề nghị 02 phương pháp thu hoạch sau:
Phương pháp thu hoạch tươi bằng cách dẫn dụ: Nhằm thu được nguồn giống mà không làm cho chúng bị sốc và thu phân Trùn. Trước khi thu hoạch khoảng một tuần, cho một tấn lưới vào khoảng giống mới đã dọn ở giữa luống (hoặc trên bề mặt luống) có chứa thức ăn mới đã được bổ sung nước ở mức bão hòa, không tưới trên phần phân chũ ở hai bên. Thức ăn tươi và ẩm độ sẽ hấp dẫn Trùn và chúng sẽ tập trung cao độ ở đây. Để thu được trên 90% con giống, nên thực hiện động tác này 2 lần.
Phương pháp thu hoạch khô: thu hoạch Trùn thịt làm thức ăn gia súc và thu tưới giữ ẩm, nên xới xáo nhiều lần giúp bốc thoát hơi nước। Khi nhận thấy hạt phân tương đối rờI rạc, dùng cào gom phân vào giữa, con trùn có khuynh hướng chui xuống, cuộn tròn dưới lớp đáy của luống. Hốt lớp phân bên trên và tiếp tục gom phân lại. Thực hiện thao tác này sẽ tách riêng được phân và trùn.
http://agriviet.com/news_detail1165-c52-s49-p0-Ky_thuat_nuoi_trun_que.html